Site icon VPLS Tư Vấn Nhật Hướng

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động – Khi nào được phép?

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của một bên chủ thể trong quan hệ lao động nhưng được pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện. Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho một trong các bên trong quan hệ lao động vì những lý do khách quan không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc vì sự vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật từ phía bên còn lại.

Tuy nhiên, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được thừa nhận và bảo hộ phải tuân thủ theo các quy định về điều kiện nội dung và thủ tục nhất định bởi việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật sẽ giải phóng cho chủ thể khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong hợp đồng lao động. Ngược lại, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định về điều kiện nội dung và thủ tục theo quy định của pháp luật, từ đó sẽ dẫn đến các hệ quả pháp lý bất lợi cho chủ thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động; thúc đẩy sự phát triển của quan hệ lao động và nâng cao chất lượng lao động; giúp NSDLĐ linh hoạt hơn trong việc sử dụng lao động sẵn có, từ đó phát triển lợi thế doanh nghiệp phù hợp với định hướng phát triển của đơn vị. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía NSDLĐ không phân biệt đối với hợp đồng lao động có thời hạn, không có thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng được pháp luật lao động quy định có phần khá khắt khe hơn so với người lao động.

  1. Các trường hợp NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

NSDLĐ chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động NSDLĐ phải báo cho người lao động biết trước. Thời hạn thông báo tùy từng trường hợp được xác định như sau:

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, NSDLĐ phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền bồi thường gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Tiền bồi thường = tiền lương những ngày người lao động không được làm việc + Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc + ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động

Bên cạnh khoản tiền bồi thường như trên, NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật còn có trách nhiệm tùy từng trường hợp cụ thể như sau:

Trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

4. Trường hợp NSDLĐ không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Kể cả khi người lao động thuộc trường hợp NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì NSDLĐ cũng không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với họ khi họ đang trong các giai đoạn sau đây:

(Điều 38, 39, 42 BLLĐ năm 2012, Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP và Điểm e Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP)

Exit mobile version