Site icon VPLS Tư Vấn Nhật Hướng

Cán bộ, công chức, viên chức sở hữu công ty – Hoàn toàn có thể…

Có phải bạn vẫn thường nghe nói về quy định cán bộ, công chức, viên chức (CB-CC-VC) không được sở hữu công ty riêng. Nhận định này thật ra không sai, chỉ là không đúng hoàn toàn. Bởi, nếu áp dụng pháp luật một cách khéo léo, CB-CC-VC hoàn toàn có thể sở hữu một hoặc nhiều các công ty tư nhân một cách hợp pháp, đúng với các quy định của pháp luật.

Xem thêm: Kinh doanh không cần đăng ký, doanh nghiệp hiểu sao cho đúng?

Trường hợp nào không cần đăng ký kinh doanh?

Sau đây, Tư vấn Nhật Hướng sẽ gợi ý cho bạn một phương án sở hữu một công ty hoàn toàn hợp pháp của riêng mình, dù hiện bạn có đang là CB-CC-VC đi chăng nữa.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014), cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

Theo quy định này và quy định tại Khoản 1 Điều 37 Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, CB-CC-VC không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

     Nhìn thoạt qua, có với các quy định trên, có vẻ đã “hết đường” đối với các CB-CC-VC khi muốn sở hữu một chứ đừng nói đến việc sở hữu nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ lại quy định của pháp luật, ta sẽ thấy một con đường khá rộng mở. Bởi, các quy định pháp luật nêu trên chỉ cấm hoạt động thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành CB-CC-VC đối với các loại hình doanh nghiệp kể trên. Thế nhưng, pháp luật lại không hạn chế quyền góp vốn của các đối tượng này vào các doanh nghiệp đã được thành lập sẵn, lại càng không hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn trong một doanh nghiệp, và số lượng doanh nghiệp có thể góp vốn vào.

     Vậy, CB-CC-VC có thể tham gia góp vốn vào loại hình doanh nghiệp nào?

     Bên cạnh việc tước quyền thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp của CB-CC-VC pháp luật còn tước cả quyền tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp của đối tượng này. Vì vậy, việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để góp vốn phải cân nhắc trên tiêu chí là làm sao để sau khi đã góp vốn vào doanh nghiệp, người góp vốn không bị xác định là người quản lý doanh nghiệp.

Theo khoản 18 Điều 4 LDN 2014 xác định, người quản lý doanh nghiệp là một trong các đối tượng sau đây:

Vậy, nếu góp vốn vào công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc mua lại doanh nghiệp tư nhân, CB-CC-VC sẽ bị pháp luật xác định là người quản lý doanh nghiệp và từ đó vi phạm vào điều cấm của pháp luật.

Do đó, CB-CC-VC chỉ có thể sở hữu doanh nghiệp thông qua việc mua lại cổ phần tại một hoặc nhiều Công ty cổ phần đã được thành lập với tỷ lệ sở hữu hoàn toàn không hạn chế (lên đến 99% hoặc hơn nhưng vẫn phải đảm bảo đủ tối thiểu ba cổ đông tại công ty). Nhưng do các quy định hạn chế về quyền điều hành nên CB-CC-VC sau khi góp vốn không được đảm nhiệm các vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty.

Hiện tại việc các doanh nghiệp sử dụng nhân sự quản lý thuê ngoài hoàn toàn không còn xa lạ và thậm chí là xu hướng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn bởi tính chuyên môn cao của các đối tượng quản lý được thuê và tính linh động của phương án án này. Vì vậy, việc không thể đảm nhận các chức danh quản lý, thiết nghĩ cũng không phải là một trở ngại khó vượt qua.

Thạc sĩ.Luật sư Nguyễn Ngọc Diệp

Vướng mắc về pháp luật – Gọi ngay 0931 009 677

 

 

Exit mobile version