Bài viết cập nhật theo Bộ luật Hình sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi năm 2025 và Nghị định 288/2026/NĐ-CP
1. LƯỢC SỬ VỀ TỘI KINH DOANH TRÁI PHÉP
Tội kinh doanh trái phép từng là một tội danh độc lập trong pháp luật hình sự Việt Nam, gắn với giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế cấp phép chặt chẽ. Khi chuyển sang cơ chế công dân được kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, tội danh này mất dần cơ sở tồn tại.
Bộ luật Hình sự 2015 không còn quy định tội kinh doanh trái phép. Cần lưu ý mốc thời gian: Bộ luật này ban đầu được ấn định thi hành từ ngày 01/7/2016, nhưng sau đó bị lùi lại và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Bộ luật Hình sự 2015 hiện đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15.
Việc bỏ một tội danh không có nghĩa là hành vi trở nên hợp pháp. Nó có nghĩa là hành vi đó không còn bị xử lý bằng công cụ hình sự với tư cách một tội danh riêng, mà chuyển sang xử lý bằng chế tài hành chính, hoặc bằng những tội danh khác nếu hành vi hội đủ dấu hiệu cấu thành của các tội danh đó.
2. HÀNH VI VẪN BỊ NGHIÊM CẤM THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP
Tại Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 số 76/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2025, quy định các hành vi bị nghiêm cấm. Hai khoản liên quan trực tiếp đến chủ đề bài viết:
Tại khoản 3 Điều 16 nghiêm cấm hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký, hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc khi doanh nghiệp đang bị tạm dừng hoạt động kinh doanh.
Tại khoản 6 Điều 16 nghiêm cấm kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ điều kiện kinh doanh, hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh trong quá trình hoạt động.
Xem thêm: Kinh doanh không cần đăng ký, trường hợp nào được phép?
3. BA NHÓM HÀNH VI THƯỜNG BỊ GỌI CHUNG LÀ KINH DOANH TRÁI PHÉP
Trên thực tế, cụm từ kinh doanh trái phép được dùng để chỉ ba nhóm hành vi khác nhau, và ba nhóm này có hệ quả pháp lý không giống nhau. Việc phân biệt rõ là điều kiện để xác định đúng chế tài.
| Nhóm hành vi | Bản chất |
|---|---|
| Kinh doanh mà không đăng ký doanh nghiệp | Vi phạm nghĩa vụ đăng ký, thuộc khoản 3 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020 |
| Kinh doanh không đúng nội dung đã đăng ký | Liên quan nghĩa vụ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp |
| Kinh doanh ngành nghề có điều kiện khi chưa đủ điều kiện | Thuộc khoản 6 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020, chế tài nằm ở pháp luật chuyên ngành của từng ngành nghề |
Nhóm thứ ba là nhóm phức tạp nhất, vì chế tài không nằm tập trung ở một văn bản mà rải theo từng lĩnh vực: y tế, giáo dục, xây dựng, vận tải, tài chính. Doanh nghiệp muốn biết mức xử phạt cụ thể phải tra văn bản xử phạt của chính ngành nghề mình hoạt động.
4. CHẾ TÀI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
Chế tài đối với nhóm vi phạm về đăng ký doanh nghiệp hiện nằm tại Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 288/2026/NĐ-CP hiệu lực từ ngày 21/7/2026. Một số mức phạt tại Nghị định 288/2026/NĐ-CP:
| Hành vi | Mức phạt tiền |
|---|---|
| Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện | 30 đến 70 triệu đồng |
| Không đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp | 30 đến 70 triệu đồng |
| Vi phạm thời hạn đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tùy mức độ chậm trễ | 10 đến 60 triệu đồng |
| Không bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp | 70 đến 100 triệu đồng |
Nhóm nghĩa vụ về chủ sở hữu hưởng lợi là nội dung mới mà nhiều doanh nghiệp chưa nắm, trong khi mức phạt lại thuộc nhóm cao nhất. Đây là điểm cần rà soát ngay khi doanh nghiệp có cơ cấu sở hữu nhiều tầng.
5. KHI NÀO HÀNH VI KINH DOANH TRỞ THÀNH TỘI PHẠM
Bỏ tội kinh doanh trái phép không đồng nghĩa với việc mọi hoạt động kinh doanh sai quy định đều chỉ dừng ở xử phạt hành chính. Hành vi cụ thể vẫn có thể cấu thành một tội danh khác trong Bộ luật Hình sự 2015 nếu hội đủ dấu hiệu, chẳng hạn các tội về buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, trốn thuế, hoặc các tội danh gắn với ngành nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh.
Nghĩa là cách tiếp cận đã thay đổi về bản chất. Trước đây pháp luật hình sự xử lý chính việc kinh doanh không có phép; hiện nay pháp luật hình sự xử lý nội dung hành vi và hậu quả của nó, còn việc thiếu đăng ký thuộc phạm vi xử phạt hành chính.
6. VIỆC DOANH NGHIỆP NÊN LÀM
Rà lại ba nội dung theo đúng thứ tự rủi ro. Thứ nhất là ngành nghề thực tế đang kinh doanh có nằm ngoài nội dung đã đăng ký hay không. Thứ hai là những ngành nghề kinh doanh có điều kiện có còn duy trì đủ điều kiện trong suốt quá trình hoạt động hay không, vì Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020 đặt nghĩa vụ duy trì chứ không chỉ nghĩa vụ có đủ điều kiện tại thời điểm bắt đầu. Thứ ba là các thông tin đăng ký doanh nghiệp có được cập nhật đúng thời hạn hay không, kể cả thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015, số 100/2015/QH13, hiệu lực từ ngày 01/01/2018, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15.
- Luật Doanh nghiệp 2020, số 59/2020/QH14, hiệu lực từ ngày 01/01/2021, được sửa đổi bổ sung bởi Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 số 76/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2025: Điều 16.
- Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 288/2026/NĐ-CP hiệu lực từ ngày 21/7/2026.
Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Ngọc Diệp
Tư Vấn Nhật Hướng

Để lại một bình luận