Bài viết cập nhật theo Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi năm 2025, Luật Cán bộ công chức 2025, Luật Viên chức 2025 và Luật Phòng chống tham nhũng
Có phải bạn vẫn thường nghe nói cán bộ, công chức, viên chức (CB-CC-VC) không được sở hữu công ty riêng. Nhận định này thật ra không sai, chỉ là không đúng hoàn toàn. Pháp luật phân biệt ba việc khác nhau: thành lập doanh nghiệp, quản lý doanh nghiệp, và góp vốn để sở hữu phần vốn trong doanh nghiệp. Ba việc này chịu ba chế độ pháp lý riêng.
Xem thêm: Kinh doanh không cần đăng ký, trường hợp nào được phép?
Xem thêm: Tội kinh doanh trái phép đã bị bỏ, doanh nghiệp hiểu sao cho đúng?
Điều bị cấm rõ ràng: thành lập và quản lý doanh nghiệp
Tại điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, được sửa đổi bổ sung bởi Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 số 76/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2025, CB-CC-VC theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tại điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Hai quy định trên nhằm vào chức năng điều hành, không nhằm vào tư cách chủ sở hữu vốn. Đây chính là chỗ khiến nhận định quen thuộc trở nên không chính xác hoàn toàn.
Quyền góp vốn được quy định ở một khoản khác
Tại khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, trừ hai nhóm: cơ quan nhà nước và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; và các đối tượng không được góp vốn theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.
Nghĩa là quyền góp vốn không bị cấm chung cho toàn bộ CB-CC-VC, mà bị loại trừ theo từng trường hợp do các luật chuyên ngành xác định. Muốn kết luận cho một trường hợp cụ thể thì phải đối chiếu chức vụ và lĩnh vực công tác của chính người đó.
| Hoạt động | Cán bộ, công chức, viên chức |
|---|---|
| Thành lập doanh nghiệp | Không được |
| Quản lý, điều hành doanh nghiệp | Không được |
| Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp | Không bị cấm chung, chỉ bị loại trừ theo các trường hợp mà Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức và Luật Phòng chống tham nhũng xác định |
Hai hạn chế cụ thể cần soi kỹ
Hạn chế thứ nhất gắn với vị trí đứng đầu. Tại khoản 4 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước, cũng không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp quản lý nhà nước.
Điểm đáng chú ý là quy định này chạm cả tới người thân, không chỉ bản thân người có chức vụ. Việc chuyển phần vốn sang tên vợ chồng hoặc con vì thế không giải quyết được vấn đề, mà chỉ chuyển nó sang một quy định khác của cùng điều luật.
Hạn chế thứ hai gắn với lĩnh vực từng phụ trách. Tại điểm d khoản 2 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh hoặc chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý, trong thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ.
Đây là hạn chế còn kéo dài sau khi người đó đã rời vị trí công tác. Người chuẩn bị nghỉ hưu hoặc chuyển công tác cần kiểm tra thời hạn này trước khi nhận chức danh quản lý ở doanh nghiệp cùng lĩnh vực.
Ba văn bản cần đối chiếu cho từng trường hợp
Việc kết luận một người cụ thể có được góp vốn hay không đòi hỏi đối chiếu đồng thời ba nhóm văn bản: Luật Doanh nghiệp về quyền thành lập, quản lý và góp vốn; Luật Cán bộ, công chức 2025 số 80/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2025 và Luật Viên chức 2025 số 129/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2026 về những việc CB-CC-VC không được làm; và Luật Phòng, chống tham nhũng, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 132/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Vì cả ba nhóm văn bản đều vừa được thay mới hoặc sửa đổi trong hai năm gần đây, những kết luận rút ra từ tài liệu cũ cần được kiểm tra lại trước khi áp dụng.
Căn cứ pháp lý
- Luật Doanh nghiệp 2020, số 59/2020/QH14, hiệu lực từ ngày 01/01/2021, được sửa đổi bổ sung bởi Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 số 76/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2025: Điều 17.
- Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, số 36/2018/QH14, hiệu lực từ ngày 01/7/2019, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 132/2025/QH15 hiệu lực từ ngày 01/7/2026: Điều 20.
- Luật Cán bộ, công chức 2025, số 80/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
- Luật Viên chức 2025, số 129/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Để lại một bình luận